Bảng giá cước vận tải đường biển tuần 15/10/2026 theo Drewry cho thấy một container 40 feet từ Thượng Hải đi Los Angeles là 7.884 USD, đi Rotterdam 3.522 USD và đi Busan 1.000 USD. Hàng lẻ LCL thì không có chỉ số công khai, mà được tính theo W/M trên từng báo giá. Vì hàng lẻ lấy số lớn hơn giữa mét khối và tấn, còn hàng nguyên container tính theo từng vỏ 20 feet, 40 feet hoặc 40HC, cùng một lô có thể cho hai con số rất khác nhau tùy phương án. Bài viết đưa mặt bằng cước theo khu vực, hướng dẫn quy đổi lô hàng ra đơn vị tính cước, cộng đủ các khoản đi kèm, rồi dự toán một lô cụ thể từ Cát Lái theo cả hai phương án bằng số liệu giả định.
Tóm tắt nhanh (Key Takeaways):
- Mặt bằng tuần 15/10/2026: Cước châu Á đi châu Âu tăng trở lại sau 13 tuần giảm liên tiếp, tuyến Thượng Hải đi Rotterdam tăng 6%, trong khi tuyến Thượng Hải đi Busan giảm 8% theo Drewry
- Đơn vị tính: Hàng lẻ tính theo W/M với quy ước 1 CBM tương đương 1 tấn, hàng nguyên container tính theo vỏ, nên cùng một lô có thể cho hai con số rất khác nhau
- Điểm hòa vốn phụ thuộc tuyến: Trong tình huống giả định, đi Busan thì từ khoảng 11 CBM thuê container 20 feet đã rẻ hơn hàng lẻ, còn đi Los Angeles thì hàng lẻ vẫn rẻ hơn gần tới lúc đầy container
Nội dung
- 1. Cước biển tuần 15/10/2026 theo khu vực đích
- 2. Ba nhóm cước đường biển và đơn vị tính của từng nhóm
- 3. Hàng lẻ LCL: quy lô ra W/M rồi cộng phí CFS
- 4. Hàng nguyên container: chi phí gần như cố định theo vỏ
- 5. Lô 13,2 CBM từ Cát Lái: đi Busan nên thuê container, đi Los Angeles nên gửi lẻ
- 5.1. Dữ kiện lô hàng
- 5.2. Hai phương án đặt cạnh nhau
- 5.3. Điểm hòa vốn trên tuyến Busan
- 5.4. Cùng lô hàng nhưng đi Los Angeles
- 6. Đặc tính hàng và thời hạn giao quyết định thêm giữa hàng lẻ và nguyên container
- 7. Cước container nội địa bằng đường biển
- 8. Everest dựng song song dự toán LCL và FCL cho lô hàng chưa đầy container
- Câu hỏi thường gặp (FAQ)
1. Cước biển tuần 15/10/2026 theo khu vực đích
Hai câu hỏi người gửi hàng thường đặt trước tiên là cước biển hôm nay ở mức nào và mức đó đang tăng hay giảm, nên mục đầu dùng chỉ số công bố có ngày để đặt mốc trước khi đi vào cách tính cho từng loại lô.
1.1. Cước FCL theo khu vực và mức quy đổi mỗi CBM
Hiện chưa có chỉ số LCL công khai cho tuyến xuất phát từ Việt Nam, nên bảng dưới dùng cước FCL theo khu vực của Drewry World Container Index và Drewry Intra-Asia Container Index, cùng kỳ đánh giá ngày 15/10/2026, cho các tuyến xuất phát từ Thượng Hải. Cột cuối là phép chia của bài viết, quy cước một container 40 feet ra mỗi CBM với giả định container xếp được 60 CBM hàng:
| Khu vực đích (tuyến chỉ số) | USD/40ft | So với tuần trước | Quy ra USD/CBM khi xếp 60 CBM (giả định) |
|---|---|---|---|
| Bờ Tây Mỹ (Thượng Hải đi Los Angeles) | 7.884 | Tăng 3% | Khoảng 131 |
| Bờ Đông Mỹ (Thượng Hải đi New York) | 10.075 | Giảm 1% | Khoảng 168 |
| Bắc Âu (Thượng Hải đi Rotterdam) | 3.522 | Tăng 6% | Khoảng 59 |
| Địa Trung Hải (Thượng Hải đi Genoa) | 3.945 | Tăng 7% | Khoảng 66 |
| Ấn Độ (Thượng Hải đi Jawaharlal Nehru) | 3.370 | Giảm 11% | Khoảng 56 |
| Đông Nam Á (Thượng Hải đi Singapore) | 1.973 | Giảm 7% | Khoảng 33 |
| Hàn Quốc (Thượng Hải đi Busan) | 1.000 | Giảm 8% | Khoảng 17 |
Đây là cước giao ngay cho chặng cảng đến cảng, và Drewry ghi rõ chỉ số nội Á chưa gồm THC ở hai đầu. Vì vậy, các khoản theo lô như phí CFS, phí chứng từ và xe đưa hàng ra cảng vẫn phải cộng riêng theo cách trình bày ở mục 3 và mục 4. Với tuyến xuất phát từ TP.HCM, mức cước theo chỉ số VCFI của sàn Phaata được tổng hợp trong bài về bảng giá cước container, và hai nguồn thường cùng chiều nhưng không cùng mức.
Cột quy đổi không phải giá LCL mà là phần cước biển mỗi CBM phải gánh khi một container 40 feet được xếp gần đầy. Trên tuyến Busan, mỗi CBM trong container đầy chỉ chịu khoảng 17 USD cước biển, nên phí CFS và cước LCL tính theo W/M dễ vượt chi phí thuê nguyên vỏ. Trên tuyến Mỹ, con số này lớn hơn nhiều, nên hàng lẻ giữ lợi thế tới khi lô gần đầy container.
1.2. Vì sao mức cước đổi theo từng tuần
Theo Drewry, cước châu Á đi châu Âu tăng trở lại trong kỳ 15/10/2026 sau 13 tuần giảm liên tiếp, nhưng số chuyến bị hủy của tuần kế tiếp giảm từ sáu xuống hai và việc tàu quay lại đi qua kênh Suez làm công suất trên tuyến tăng thêm. Trên tuyến xuyên Thái Bình Dương, nhu cầu nhập khẩu của Mỹ còn mạnh nên cước giữ ở mức cao. Các yếu tố sau thường khiến báo giá thay đổi:
- Nhu cầu theo mùa: Drewry ghi nhận nhu cầu yếu trong dịp Golden Week của Trung Quốc đầu tháng 10 làm chỉ số giảm, còn mùa cao điểm thường kéo theo PSS và GRI trên các tuyến xa
- Giá nhiên liệu: Drewry ghi nhận giá dầu Brent ở trên 100 USD/thùng từ đầu tháng 9/2026, làm tăng chi phí vận hành của hãng tàu, nên BAF và báo giá ghi phụ phí "theo hãng tàu" sẽ đổi khi giá dầu đổi
- Phụ thu niêm yết: Nghị định 146/2016/NĐ-CP yêu cầu niêm yết giá vận chuyển container bằng đường biển và phụ thu, và mức tăng chỉ có hiệu lực không sớm hơn 15 ngày kể từ ngày niêm yết, nên người gửi hàng có thể tra trước mức sắp áp dụng
- Ùn tàu tại cảng: Thời gian chờ tàu trung bình tại Singapore giảm từ 50 xuống 34 giờ trong tuần 41/2026, và Drewry cho rằng việc cảng bớt ùn là một lý do khiến cước nội Á giảm trong kỳ này
Vì các yếu tố này, mọi dự toán dựa trên bảng giá cước vận tải đường biển nên ghi ngày lập và ngày hết hạn báo giá đã dùng, và với lô cần đi vào mùa cao điểm, doanh nghiệp nên chốt booking sớm thay vì chờ sát ngày hàng sẵn sàng.
2. Ba nhóm cước đường biển và đơn vị tính của từng nhóm
Cước vận tải đường biển rơi vào ba nhóm, mỗi nhóm dùng một đơn vị tính, nên trước khi ước tính chi phí người gửi hàng cần biết lô của mình thuộc nhóm nào. Hàng nguyên container quốc tế (FCL) tính theo từng container, hàng lẻ quốc tế (LCL) gom chung container tại kho CFS và tính theo W/M, còn container đi giữa các cảng trong nước tính theo container như FCL nhưng có cấu phần phí riêng.
| Nhóm | Đơn vị tính cước chính | Khoản đi kèm thường gặp |
|---|---|---|
| FCL quốc tế | Container | THC, chứng từ, seal, phụ phí hãng tàu, kéo container |
| LCL quốc tế | W/M | Phí CFS hai đầu, chứng từ, xe tải đưa hàng tới kho CFS |
| Container nội địa bằng đường biển | Container | Nâng hạ, vệ sinh container, D/O, kéo container hai đầu |
Mỗi nhóm đi qua bốn chặng chi phí giống nhau là nội địa đầu đi, cảng đầu đi, chặng biển và đầu đến, như bài giá cước vận chuyển quốc tế gồm những khoản chi phí nào đã phân tích. Điểm khác là khoản nào tăng theo khối lượng hàng và khoản nào cố định cho cả lô, và chính sự khác nhau này quyết định phương án nào rẻ hơn.
3. Hàng lẻ LCL: quy lô ra W/M rồi cộng phí CFS
Với hàng lẻ, phần lớn chi phí tăng tuyến tính theo số W/M, nên chỉ cần quy đổi đúng lô hàng ra W/M là người gửi hàng đã ước tính được phần lớn phí vận chuyển đường biển của lô đó.
3.1. Quy đổi lô hàng ra W/M
W/M là viết tắt của Weight or Measurement, còn gọi là revenue ton, với quy ước phổ biến 1 CBM tương đương 1 tấn và lô hàng được tính theo số nào lớn hơn. Một lô hàng nhẹ 3,2 CBM nặng 900 kg được tính 3,2 W/M, trong khi một lô hàng nặng 1,1 CBM nặng 1.500 kg được tính 1,5 W/M, vì với lô thứ hai số tấn lớn hơn số mét khối.
CBM phải đo trên kiện đã đóng gói hoàn chỉnh, gồm cả pallet và vật liệu chèn, vì kho CFS đo lại khi nhận hàng và tính theo số đo thực tế. Cách đo, làm tròn và quy đổi được hướng dẫn chi tiết trong bài cách tính trọng lượng tính cước LCL.
3.2. Các khoản cộng thêm theo W/M và theo lô
Hàng lẻ được gom tại kho CFS đầu đi và tách tại kho CFS đầu đến, nên ngoài cước biển còn có phí CFS, tính theo W/M hoặc theo lô tùy đơn vị gom hàng. Quy trình gom và các mốc chốt hàng tại kho có trong trang dịch vụ gom hàng lẻ LCL. Khi ước tính, người gửi hàng nên tách chi phí thành hai phần:
- Phần tăng theo W/M: Cước biển và phí CFS, nhân với số W/M của lô
- Phần cố định theo lô: Phí chứng từ, phí truyền dữ liệu nếu tuyến yêu cầu, xe tải đưa hàng từ kho tới kho CFS
- Cước tối thiểu: Mức W/M nhỏ nhất mà báo giá tính cho một lô, nên lô rất nhỏ vẫn trả theo mức này
Tách như vậy cho phép viết chi phí LCL thành một công thức đơn giản là phần cố định cộng với đơn giá mỗi W/M nhân số W/M, và đây là công thức dùng để so với FCL ở mục 5.
4. Hàng nguyên container: chi phí gần như cố định theo vỏ
Với hàng nguyên container, phí vận tải đường biển gần như không đổi dù hàng xếp được một nửa hay gần đầy, vì cước biển, THC, phí chứng từ, seal và kéo container đều tính theo vỏ hoặc theo lô. Dự toán FCL vì vậy bắt đầu bằng việc chọn đúng loại vỏ, sau đó cộng các khoản theo vỏ của chặng mà người gửi hàng phải trả theo điều kiện giao hàng đã ký. Với hàng cần vỏ chuyên dụng như open top, flat rack hay container lạnh, cước và phụ phí khác hẳn vỏ khô, do đó người gửi hàng nên đối chiếu các loại container trước khi xin giá để báo giá đúng mã vỏ.
Dung tích lòng tham khảo của container 20GP khoảng 33 m³, 40GP khoảng 67 m³ và 40HC khoảng 76 m³, nhưng số khối xếp thực tế luôn thấp hơn, tùy kích thước kiện và cách xếp, nên phép quy đổi ở mục 1 chỉ dùng mức 60 CBM cho container 40 feet. Hàng nặng thường chạm tải trọng cho phép trước khi đầy thể tích, nên với hàng như gạch men hay máy móc, số tấn mới là giới hạn cần kiểm.
Khi đã có vài báo giá FCL trong tay, cách đưa chúng về cùng phạm vi và cộng các phụ phí để ngỏ được trình bày trong bài bảng giá cước vận chuyển container. Ở bước dự toán, người gửi hàng chỉ cần một con số tổng theo vỏ để so với phương án hàng lẻ.
5. Lô 13,2 CBM từ Cát Lái: đi Busan nên thuê container, đi Los Angeles nên gửi lẻ
Mọi đơn giá trong tình huống này là số giả định, chọn để thấy cách dự toán vận hành chứ không lấy từ báo giá của hãng tàu hay kho CFS nào, nên trước khi chốt, lô hàng thật vẫn cần báo giá có ngày hiệu lực của riêng nó.
5.1. Dữ kiện lô hàng
Một doanh nghiệp ở Bình Dương xuất khẩu đồ gia dụng đóng thùng carton sang Hàn Quốc theo điều kiện CIF Busan, nên phải trả chi phí từ kho tới cảng Cát Lái cùng cước biển, còn phí đầu đến do người mua trả. Lô hàng có tổng thể tích 13,2 CBM và tổng trọng lượng 3,8 tấn, nên khi đi lẻ sẽ được tính 13,2 W/M theo số mét khối.
5.2. Hai phương án đặt cạnh nhau
Bảng dưới đặt chi phí phía người bán của hai phương án cạnh nhau (đơn vị USD, toàn bộ là số giả định):
| Khoản | LCL (13,2 W/M) | FCL (1 × 20GP) |
|---|---|---|
| Cước biển | 15 USD/W/M × 13,2 = 198 | 150 |
| Phí CFS đầu đi | 17 USD/W/M × 13,2 = 224 | Không có |
| THC Cát Lái | Đã gồm trong phí CFS | 135 |
| Phí chứng từ, seal | 35 | 50 |
| Vận chuyển từ kho ra cảng hoặc kho CFS | 90 (xe tải) | 150 (kéo container, nâng hạ) |
| Tổng phía người bán | 547 | 485 |
Dù lô hàng chỉ lấp khoảng 40% dung tích một container 20 feet, phương án thuê nguyên container vẫn rẻ hơn khoảng 62 USD, vì trên tuyến ngắn trong châu Á cước biển một container thấp, còn phí CFS tính theo từng W/M lại cộng dồn nhanh.
5.3. Điểm hòa vốn trên tuyến Busan
Từ bảng trên, chi phí LCL gồm phần cố định 125 USD (chứng từ và xe tải) cộng 32 USD cho mỗi W/M (cước biển và phí CFS). Điểm hòa vốn là số W/M mà tại đó chi phí LCL bằng chi phí FCL, tức (485 trừ 125) chia 32, khoảng 11,25 CBM.
Như vậy, với tuyến Cát Lái đi Busan và các mức giả định này, lô dưới khoảng 11 CBM nên đi lẻ, còn lô từ khoảng 11 CBM trở lên nên xin thêm báo giá FCL 20 feet. Một lô 8 CBM chẳng hạn sẽ tốn khoảng 381 USD nếu đi lẻ, thấp hơn đáng kể so với 485 USD của một container. Kết luận này chỉ đúng với chi phí phía người bán, nên khi bán theo điều kiện người mua trả phí đầu đến, doanh nghiệp vẫn nên báo trước cho người mua vì phí CFS đầu đến của hàng lẻ thường cao hơn phí nhận container.
5.4. Cùng lô hàng nhưng đi Los Angeles
Nếu cùng lô 13,2 CBM đi Los Angeles, giả định cước biển LCL là 110 USD/W/M và cước biển một container 20 feet là 4.500 USD, đồng thời mỗi phương án cộng thêm 35 USD phí truyền dữ liệu AMS cho tuyến Mỹ. Khi đó phương án LCL tốn khoảng 1.836 USD, còn phương án FCL tốn khoảng 4.870 USD, nên đi lẻ rẻ hơn khoảng 3.000 USD.
Điểm hòa vốn trên tuyến này lên tới khoảng 37 CBM, vượt dung tích xếp thực tế của một container 20 feet, nên với hàng đi Mỹ, người gửi hàng chỉ nên cân nhắc thuê nguyên container khi lô đã gần đầy một container hoặc khi so với vỏ 40HC. Hai kết quả ngược nhau cho cùng một lô hàng cho thấy không có một mốc CBM chung để chuyển từ hàng lẻ sang nguyên container, mà mốc đó phải tính lại theo từng tuyến và từng thời điểm báo giá.
6. Đặc tính hàng và thời hạn giao quyết định thêm giữa hàng lẻ và nguyên container
Ngoài phép so chi phí ở mục 5, lựa chọn giữa hàng lẻ và nguyên container còn phụ thuộc vào đặc tính hàng và yêu cầu thời gian của lô. Hàng lẻ hợp với lô nhỏ dưới điểm hòa vốn, hàng giao đều nhiều lần trong tháng cho cùng khách hàng, và lô mẫu hoặc lô bổ sung mà người mua không muốn trả phí nhận cả container.
Nguyên container nên được ưu tiên ngay cả khi chi phí xấp xỉ hàng lẻ trong ba tình huống. Thứ nhất, hàng dễ vỡ hoặc giá trị cao, vì hàng lẻ được bốc xếp thêm hai lần tại kho CFS và đi chung với hàng của chủ khác. Thứ hai, lô có thời hạn giao chặt, vì hàng lẻ phải chờ đến ngày chốt gom tại kho CFS và mất thêm thời gian tách hàng ở đầu đến. Thứ ba, hàng cần niêm phong riêng hoặc dễ bị ảnh hưởng mùi, ẩm từ hàng khác, như thực phẩm khô hay hàng dệt may.
Khi lô hàng gấp tới mức cả nguyên container cũng không kịp, người gửi hàng nên so thêm phương án hàng không theo cách đặt chi phí và thời gian cạnh nhau như trong bài về cước vận chuyển hàng không, thay vì chỉ so giá trên mỗi kg.
7. Cước container nội địa bằng đường biển
Thông tư 41/2025/TT-BXD, hiệu lực từ 01/02/2026, định nghĩa vận tải biển nội địa tại khoản 2 Điều 3 là việc vận chuyển bằng tàu biển mà điểm nhận và điểm trả hàng đều thuộc vùng biển Việt Nam. Chủ hàng chuyển container từ TP.HCM ra các cảng phía Bắc thường cân nhắc phương án này cho hàng nặng, nhiều container và không cần giao gấp.
Báo giá container nội địa bằng đường biển nên tách bốn nhóm khoản gồm cước biển giữa hai cảng, nâng hạ và vệ sinh container, lệnh giao hàng D/O và kéo container hai đầu. Để so với xe container chạy đường bộ cùng tuyến, chủ hàng phải cộng đủ bốn nhóm này và tính thêm số ngày chờ tàu, vì nếu chỉ đặt cước biển cạnh cước xe thì phương án đường biển luôn trông rẻ hơn thực tế.
8. Everest dựng song song dự toán LCL và FCL cho lô hàng chưa đầy container
Khi lô hàng nằm quanh mốc vài chục CBM và doanh nghiệp chưa biết nên gửi lẻ hay thuê vỏ, Everest Logistics dựng hai dự toán song song như lô 13,2 CBM ở mục 5. Từng kiện được quy ra W/M theo kích thước và trọng lượng thật, cộng phí CFS, cước biển, local charge và chi phí đưa hàng ra Cát Lái hoặc Cái Mép, rồi tính điểm hòa vốn cho đúng tuyến cần đi. Hai con số được đặt trên cùng một phạm vi chi phí, và mỗi con số ghi ngày hiệu lực của báo giá đã dùng để doanh nghiệp biết dự toán còn đúng tới khi nào.
Everest Logistics thành lập năm 2018, trụ sở tại TP.HCM. Dịch vụ vận chuyển đường biển quốc tế FCL/LCL nhận hàng nguyên container, hàng lẻ và hàng quá khổ, kèm khai báo hải quan và bảo hiểm hàng hóa khi cần, nên lô hàng đổi phương án giữa chừng vẫn đi qua cùng một đầu mối.
Một dự toán LCL và FCL đủ tin cậy cần ba nhóm dữ liệu, và doanh nghiệp có thể chuyển chúng qua trang nhận yêu cầu dự toán cước biển:
- Danh sách kiện: Kích thước và trọng lượng từng kiện sau khi đóng gói, kể cả pallet và vật liệu chèn
- Nơi đi và nơi đến: Địa chỉ kho đi, cảng đến hoặc địa chỉ giao, cùng điều kiện Incoterms đã ký với người mua
- Nhịp gửi hàng: Ngày hàng sẵn sàng, ngày người mua cần nhận và số lô dự kiến mỗi tháng nếu hàng đi đều
Mốc chuyển từ hàng lẻ sang nguyên container không có con số chung cho mọi tuyến. Trên tuyến ngắn trong châu Á, nhiều lô chưa tới nửa container đã nên thuê nguyên vỏ, còn trên tuyến xa thì ngược lại, nên mỗi lô cần được tính lại bằng báo giá có ngày.
Quý doanh nghiệp cần tư vấn thủ tục hải quan, tra cứu mã HS hoặc nhận báo giá cước vận chuyển trọn gói, vui lòng liên hệ ngay với chuyên viên của Everest Logistics để được hỗ trợ phương án tối ưu nhất.
Câu hỏi thường gặp (FAQ)
Lô hàng lẻ dưới 1 CBM được tính cước như thế nào?
Lô dưới mức tối thiểu vẫn trả theo cước tối thiểu ghi trong báo giá. Mức tối thiểu do từng đơn vị gom hàng quy định, nên cần hỏi rõ trước khi gửi những lô rất nhỏ.
Hàng lẻ có phát sinh phí ở cảng đến không?
Có. Hàng lẻ phát sinh phí CFS đầu đến, phí lệnh giao hàng và phí làm hàng, và bên trả các khoản này tùy điều kiện Incoterms trong hợp đồng mua bán.
Báo giá cước đường biển thường có hiệu lực bao lâu?
Mỗi báo giá ghi ngày hết hạn riêng và thường ngắn, nhất là với giá giao ngay. Cần xem báo giá tính theo ngày booking hay ngày tàu chạy để biết lô hàng có còn trong hạn hay không.
Hàng lẻ có nên mua bảo hiểm hàng hóa không?
Nên cân nhắc, vì hàng lẻ được bốc xếp nhiều lần tại kho CFS và đi chung với hàng của chủ khác. Phí bảo hiểm tính trên giá trị hàng nên thường nhỏ so với rủi ro hư hỏng hoặc thất lạc.
Đi hàng lẻ mất thêm bao nhiêu thời gian so với nguyên container?
Hàng lẻ mất thêm thời gian chờ ngày chốt gom tại kho CFS đầu đi và thời gian tách hàng ở đầu đến. Số ngày cụ thể phụ thuộc lịch gom của từng kho và lịch tàu, được xác nhận khi booking.
CÔNG TY TNHH EVEREST LOGISTICS
- VPĐD: 195 đường N, phường Phú Hữu, quận 9, HCM
- Email: ryan@everlog.vn
- Hotline: 0919108538 (Mr.Vỹ)
- Website: https://www.everlog.vn
- Phone: 0825555652 (Ms. Quyên)
- Email: lequyen@everlog.vn